28 tháng 8, 2017

Thủ phủ “HOÀNG TRIỀU CƯƠNG PHỔ” – Một giấc mơ ôn đới (Tiếp theo)

Dalat đón chúng tôi một ngày mưa lất phất, gió cù vào bàn tay một cảm giác se se. Sự dễ chịu của Dalat chính là nét tĩnh lặng chênh vênh của những con đường dốc lại không có đèn tín hiệu giao thông. Thành phố không xích lô, không máy lạnh điều hòa.
Xứ sở có rất nhiều khu vườn rộng thênh thang nhưng đều phân biệt nhau bằng hàng rào mắc cáo như những mũi kim khâu. Dalat nhỏ xíu với khoảng 200 ngàn dân. Tổ tiên thật sự ở đây là người Lat và người Chill (hai tộc người K'Ho). Nhưng theo thống kê, đất thủ phủ “Hoàng Triều Cương Phổ” có đến 70 % là người gốc Huế, 20 % người xứ Bắc và người gốc Quảng cũng chỉ 10 %.

Đalat không có món ăn riêng để được gọi “quốc hồn quốc túy”, chỉ có hoa và đặc sản dâu, rượu được làm từ ấy, nhưng còn khá nhiều địa chỉ dẫn dụ du khách từ muôn nơi. Muốn thác, có thác. Muốn đồi, có đồi. Muốn xem vườn dâu, có vườn dâu. Muốn chùa, có chùa. Muốn có chi có nấy!.
Vậy mà có một điều lạ rằng vào ngày lễ hội, ở những nơi như Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng hay Sài Gòn ta đều gặp nhan nhản những mắt xanh mũi lỏ. Thậm chí còn thấy những bà mẹ ví dặm phiêu lưu trên tay bế, tay bồng đứa con còn đỏ lỏn khóc oe oe. Dân Tây mà, có sá chi, họ luôn dày dạn, lãng du, phượt khi con còn ẵm ngửa. Nhưng với Dalat vào ngày lễ hội chỉ thấy toàn thấy “mũi tẹt da vàng”. Dalat ngày xưa cũng vậy, chẳng có khu tập trung đông ký giả trong nước và quốc tế để đánh hơi hay tán gẫu tình hình thế sự hoặc là nơi R&R của lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Nói đến dân Tây, Hà Nội có ngã tư quốc tế với khu Tạ Hiện, Mã Mây, hay trong Sài Gòn là khu Bùi Viện, Phạm Ngũ Lão, đông nghịt. Còn Dalat chắc “bọn nó” khôn hơn vì nhiều nhẽ:
Đầu tiên, như đến hẹn lại lên, giá thuê phòng tăng cao ngất ngưỡng. Một Hotel lơ phơ ở những con đường Bùi Thị Xuân, Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng v.v.v cũng có thể hét giá 1triệu đồng một phòng/ ngày. Còn lực lượng cò kéo cho dịch vụ này ngày càng bổ sung thêm quân số. Đã kinh nghiệm qua nhiều lần lên đây, nhưng khi nhìn thấy họ chào mời Hotel hay tham quan những vườn dâu sinh học. Tôi vẫn cứ tưởng ngành du lịch Dalat đã biết mời gọi, một “mấu chốt của triết lý giao thương”. Ai dè khi đi theo lời dẫn dụ của họ thì mới bật ngửa, Dalat vẫn còn rất đông người kiểu làm ăn “tay không bắt giặc”. Nhớ nhiều lần tôi lên đây vào ngày lễ, giá ăn uống, hàng lưu niệm sốt chưa từng thấy. Chặt chém là chuyện bình thường và cũng chỉ biết “ngậm bù hòn làm ngọt”.
Vậy người Dalat ngày nay giàu có!?. Một vạn lần không!. “Nước nổi chứ bèo đâu có nổi”. Thấy cánh xe ôm, hay tiểu thương buôn bán nhì nhằng ngoài chợ, người đọc báo, kẻ đú đởn phởn phơ mà thật ra họ đều héo hắt ruột gan vì giá sinh hoạt cho gia đình hàng ngày đâu có “tàn bạo”như vào dịp lễ. Tiền chỉ chạy vào túi của những người có của và biết nắm bắt thời cơ.
Người ta đang thương mại hóa hay du lịch hóa Dalat. Ngồi trên xe dạo quanh thành phố, tôi cùng những suy tư bạt gió. Nếu ai đó vô tình nghe câu hát “Ai lên xứ hoa anh đào” mà nức nở. Dalat sương mù đã thôi giăng, trà, café cũng thôi ngon. Hớp ngụm café bỗng dưng lòng lại nghĩ, muốn thưởng thức café ngon chắc cứ phải về…..Sài Gòn. Uhm thì về, nhưng biết đến nơi đâu để ngồi nhớ Dalat một thời xa ngái. Dalat không chỉ đẹp và mộng mơ mà còn là chiếc nôi sinh ra bao nghệ sĩ hào hoa. Mà nay giọt nắng nhạt hòa trên lá cỏ, thông xanh xưa reo ngân dài lời ru buồn bất tận, lớp nhạc sĩ Lê Uyên Phương, Hoàng Nguyên v.v.v đã về cõi vĩnh hằng, lớp còn lại Khánh Ly, Lê Uyên v.v.v.nay phiêu bạc về đâu…!?
Tôi đi tìm chất liệu của đời sống. Dalat đẹp và mông mơ không chỉ ở sắc đẹp của những loài hoa, những súp lơ, xà lách, cà rốt, khoai tây…. Phải chăng vẻ đẹp là ở những tàn tích, những hồn cốt, những giá trị tinh thần ẩn sâu. Người có quyền lực biết lắng nghe và hồn cốt văn hóa của người bản xứ cũng chẳng đâu xa, chỉ có sự trưởng thành trong nhận thức mới có thể cứu rỗi được những gì đã mất. Đó là những thử thách thời cuộc mà tôi cảm nhận về “Một giấc mơ ôn đới!”….. (Còn tiếp)
Andi Nguyễn Ánh Nhật.


-->Đọc thêm...

Thủ phủ “HOÀNG TRIỀU CƯƠNG PHỔ” – Một giấc mơ ôn đới


Thời tiết mỗi năm thật lạ lùng, đất phương Nam mưa triền miên và chưa bao giờ trải qua một mùa mưa dữ dội như vậy. Coi mòi như ông trời bị vợ bỏ mà khóc miết. Nhưng khi chúng tôi đã hẹn lại lên đường….Rồi như thế tôi lại có dịp được ghi chép thêm đôi điều về thủ phủ “Hoàng Triều Cương Phổ” (1950-1954), nơi còn in đậm những kỷ niệm hồi hương của cựu hoàng Bảo Đại.
Ngủ một mình không có ai kêu réo, khi tôi bật tỉnh dậy thì trời đã tảng sáng. Loay hoay chưa định làm gì cũng là lúc trưởng đoàn Thu Hiền – Chủ tịch MTTQ Việt Nam xã XH giục tôi qua điện thoại: “Xe gần đến đón anh rồi đó nghe!”. Chỉ xếp vội được vài bộ áo quần vào ba lô là chiếc xe trờ tới, tôi dọt lên đường….
Đường lên mạn ngược, xe chúng tôi hướng về Đức Linh – Bình Thuận xuôi trong tiếng gió, qua nhiều triền co đồi núi. Mùi hương sớm miền đất đỏ có chút ẩm ương, vạt gió xám vô tình lọt qua khe cửa kính châm chích thịt da se sắt. Vội khi đi chỉ mặc một chiếc áo sơ mi mỏng, tôi lại trách mình nhở lên trên ấy lạnh thì biết tính sao (!?). Tôi cảm thấy lạnh trong lòng, hình như thiếu một điều gì đó, cũng có thể là giấc mơ, như có thêm tiếng chuông tình reo theo gió, như ai đã cùng tôi trong những lần lữ thứ. …
Xe bon bon chạy, 9 giờ đã đến chân đèo Bảo Lộc. Con đèo này mới đây cũng có đến hai lần báo chí bị hố. Xe chạy nhanh vượt ẩu đến khi xảy ra tai nạn cánh tài xế lại bi bô với nhau: “Giải cứu chứ không dẫn đến thảm họa này kia (!?)” và suýt nhận được giải thưởng của UBANGT quốc gia. Cho đến khi nhà điều tra lật mặt, báo chí rút bài còn cánh tài xế mới chịu lặng thinh. Lần này leo theo cung đường ấy, trong mắt tôi, nhiều chiếc xe cứ nối đuôi nhau rù rì như đàn ngựa già leo dốc, tiếng máy xe như lấp mờ tiếng gió hú từ trên đỉnh xa. Giữa một màu xanh đa sắc của rừng, của núi. Bình thân, tôi thả mắt nhặt nhạnh từng hình ảnh của vùng đất “Hoàng Triều Cương Thổ” qua ô cửa xe. Đại ngàn có thể là cái gì đó rất khó tưởng minh của thiên nhiên và cuộc sống phía sau vách núi. Cuộc sống sinh động, gần ngày lễ xe hơi cứ nối đuôi nhau ùn lên xứ sở hoa anh đào, nhiều cô gái chàng trai đèo nhau đi phượt. Đèo B’lao, người Mạ đã từng lấy nơi đây làm “thủ phủ” từ khi có vương quốc Phù Nam, vậy mà dõi mỏi mắt tôi vẫn chưa thấy bóng dáng của họ đi nương rẫy. Ðèo ngoằn ngoèo, tay tôi lăm lăm khẩu Nikon được gắn lens AF-S - Nikkor 70–300 mm mà cứ ướt chi chộp được vài dáng cánh áo của người bản tộc hay mái tranh, chuồng gà mán lợn của họ. Còn với núi rừng, ngôn ngữ của máy ảnh có thấm thóp gì so với những sắc màu của tạo hóa…..
Gần đến đỉnh đèo, xe chúng tôi ghé vào thăm “Phật hai Cô”. Nơi đây thật tĩnh lặng, không nhang trầm mây thu nhưng đủ cho ai vừa đặt chân đến cũng đều có cảm giác tịnh thiền. Núi là Phật, nhìn ngược xuống là những quanh co đời. Mặc kệ với những suy tư hằng có, tôi tự quên cho mình giữa dòng đời ngược xuôi một sự thưởng ngoạn từ tầm nhìn trên cao. Bồng bềnh phiêu du, núi rừng đẹp quá, một vẻ đẹp luôn cần nhấm nháp chậm rãi như sự thưởng thức hương vị của một tách café ngon. Giữa chốn thiêng linh, nếu ai đó lụy cảm với cái vẻ đẹp bạt ngàn huyền bí của núi rừng chắc có lẽ cũng là điều thường tình..
Một Bảo Lộc hiện ra trước mắt chỉ với con đường lớn là quốc lộ 20, nhưng theo cách cảm nhận của riêng tôi là trù phú. Thị xã rất ít có những tấm bích chương quảng cáo du lịch được thêu dệt những mỹ từ mời gọi trên những gam màu hư huyễn mà tôi từng thấy nhiều nơi. Tôi nhận diện Bảo Lộc một màu “thô mộc”, xa xa bạt ngàn màu xanh của những đồi Chè, cà phê vây bủa v.v.v. Rất khác với Tây Nguyên lô nhô màu sắc, những ngôi nhà mái chảy, con đường bụi đỏ gieo neo. Bảo Lộc rất riêng và cảm nhận.
Nơi đây chỉ còn khoảng hơn 100 km nữa là chúng tôi sẽ đặt chân đến thủ phủ đất “Hoành Triều Cương Phổ”. Không phải ngẫu nhiên nhà Nguyễn phóng tầm nhìn đến Đà Lạt để xây một hành cung cho mình. Và lịch sử được ghi lại qua việc triều Nguyễn đã phái đại thần Đoàn Đình Duyệt, Thượng thư bộ Công, Cơ mật đại thần, kiêm Quản đốc Đô sát viện lên đường đến Đà Lạt giữa tháng 7 năm 1918. Đường sá xa xôi và khó khăn, “đoàn quân” của Đoàn Đình Duyệt phải đi xe lửa đến Đà Nẵng rồi vào phương Nam bằng tàu thủy cho đến trước leo đèo Eo Gió (Bellevue) thuộc cao nguyên Lâm Viên có độ cao 1.045 mét. Họ đã đến đây vào dịp hè nhưng khí hậu như đầu xuân. Trú ở đây đến mùa đông hàn thử biểu nhiệt độ chỉ có xuống một hai, đôi khi lại có mưa tuyết như miền Nam châu Âu. Điều kỳ lạ đã có trên đất nước Lĩnh Nam – Một giấc mơ ôn đới…..(Còn tiếp)
Dalat Ngày 26 tháng 8 năm 2017Andi Nguyễn Ánh Nhật

-->Đọc thêm...

20 tháng 10, 2016

Họa sĩ DƯƠNG ĐÌNH SANG như tôi đã biết !

Chân dung Họa sĩ Dương Đình Sang
Nhân ngày giổ thứ 11 của Họa sĩ Dương Đình Sang, tôi theo chân Dương Quang Thụy người con trai của ông về Huế viếng mộ và thắp nhang cho Người. 

Dương Quang Thụy là người em thân thiết của tôi suốt mười mấy năm nay. Thụy hiện đang làm nghề kinh doanh thành đạt. Nhớ ngày đầu biết nhau, chúng tôi đã hiểu và chơi rất thân, nhưng cũng đến vài năm sau nữa tôi mới biết Thụy trước đây từng học ở trường Đại học Mỹ thuật Huế rồi “lang thang sĩ” giữa Sài Gòn chuyên chép tranh. Vả lại đó là con trai của Họa sĩ tài hoa Dương Đình Sang - Một nghệ sĩ thực thụ, một người anh lớn trong làng mỹ thuật ở Huế. Đến nay cũng đã 11 năm trái tim ông đã về nơi trạm cuối của đời, nhưng tình yêu, khát vọng và giá trị nghệ thuật đích thực trong tranh ông vẫn còn sáng mãi ….. 

Dương Đình Sang khi học ở CĐ Mỹ thuật Huế (1974)
Về Huế giữa tháng 10, gặp ngày mưa to, gió bão. Nhà Ba của Thụy thật rộng, hình như còn có tiếng chim hót trong vườn nhà đây. Trong ngôi nhà tầng 2, tầng 3 dùng để kinh doanh Karaoke, còn nguyên tầng 1 là nơi trưng bày các tác phẩm của họa sĩ bạc mệnh Dương Đình Sang. Dạo một vòng quanh phòng trưng bày, tôi như hút hồn vào cơn mộng tưởng, nhìn bút tích ký trên những bức tranh, hình như tôi nghe tiếng vang từ thiên thu dội về trên từng mảng màu bất tử….. 

Vài ngày ở nhà ông và qua tìm hiểu. Tôi biết, cuộc đời họa sĩ có lúc trúc trắc, bất định, thuyền tình chông chênh, mà thật lạ những điều ấy không hề hiển hiện trên tác phẩm của ông. Nghe kể, ông vẻ say sưa và tràn đầy năng lượng cho đến tuổi 55, nơi đỉnh cao của sự nghiệp mà chẳng hề hay biết dưới chân mình đang đứng là miệng núi lửa sắp trào dâng, như lưỡi hái tử thần vốn thường cay nghiệt với kẻ tài danh. Sau một cơn đột qụy, người nghệ sĩ không kịp giành lại được trong tay mình một định mệnh…..
Cùng với con trai và các ái nữ của họa sĩ


Cùng với các họa sĩ nổi danh ở Huế, sinh thời họa sỹ Dương Đình Sang là thế hệ nối liền giữa các bậc cao niên như Đinh Cường, Bửu Chỉ, Phạm Đăng Trí, Đỗ Kỳ Hoàng v.v.v với các họa sĩ trẻ Hoàng Đăng Nhuận, Lê Quý Long, Hà Văn Chước, Hồ Sỹ Ngọc v.v.v. Ông - Một tấm gương cho các họa sĩ trẻ noi theo không chỉ trong sáng tạo nghệ thuật mà còn ở đức tính khiêm nhường, chân tình và là một người thầy giáo tận tâm ở Trường Đại học Mỹ thuật Huế.

Với Dương Quang Thụy, con trai của Họa sỹ Dương Đình Sang
Nói về họa sĩ Dương Đình Sang, nhiều người từng viết và báo chí đã đăng, nhân đây tôi chỉ xin mạo muội liệt kê lại những sự kiện hoạt động nghệ thuật của họa sĩ theo dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam: 

- 1971 Tham gia triển lãm tranh dành cho họa sĩ trẻ tại Hội Việt – Mỹ

- 1974 Triển lãm chung với họa sĩ Đinh Cường cũng tại Hội Việt – Mỹ

- 1976 Tham gia triển lãm tranh toàn quốc

- 1980 Tham gia triển lãm tranh toàn quốc

- 1982 Cùng với Hoàng Đăng Nhuận và Bửu Chỉ triển lãm tại Nhà Văn Hóa Huế.

- 1992 Triển lãm cá nhân tại Gallery Đồng Khởi, TP.HCM

- 1992 Cũng trong năm này triển lãm tại Gallery Notices Singapore

- 1993 Triển lãm cá nhân tại Paris – Pháp

- 1994 Triển lãm chung với họa sĩ Thyge Thomasen tại Hội nhà báo TP.HCM

- 1994 Cũng trong năm này ông đã có một cuộc triển lãm lớn cùng 26 tác giả Huế thành danh xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế tại Cung văn hóa lao động TP.HCM

Ngày kỵ cơm 15/10 hằng năm của Họa sĩ
Một gia tài đồ sộ của “cuộc đời thị giác”. Biết rằng, ít ai gọi cố họa sĩ Picasso hay cố họa sĩ Bùi Xuân Phái, bởi cái tên họa sĩ và tác phẩm đều luôn bất tử. Nhưng nghiệt ngã thay, với hội họa, một thiên tài nào trên thế giới cũng phải mất hàng trăm năm mới được con người thừa nhận. Còn họa sĩ Dương Đình Sang ?. Ông sinh ra trong một gia đình làm nghệ thuật, ông có người anh ruột là nghệ nhân Dương Đình Vinh - Sinh ra và lớn lên, ông sở hữu một cây đũa thần (!?). Nhưng hội họa lại như tình yêu, để trở thành một họa sĩ thực thụ, người ấy phải biết đắm say và thành thực với lòng mình. Dương Đình Sang là một họa sĩ như vậy. Trong sáng tác ông luôn tìm kiếm cái mới nhưng vẫn giữ sự đằm thắm của một sự kế thừa và thừa hưởng các phẩm chất thẩm mỹ, ứng xử văn hóa độc đáo của người Huế.
Cùng với anh trai họa sĩ. Nghệ nhân Dương Đình Vinh
Những người cùng thời với họa sĩ nói rằng, ông đã vẻ rất sớm và thành danh cũng sớm. Họa sĩ nổi tiếng Bửu Ý từng có nhận xét : “ Dương Đình Sang đã là họa sĩ khi chưa thành …..họa sĩ. Nói cách khác, anh đã vọc sơn từ khi bước chân chưa chạm đến cổng trường….. Hội họa với Sang, Sang với hội họa, như vầy hội cùng nhau, như cá với nước, ăn ở với nhau từ thưởu nào….”. Còn nói về nghệ thuật vẻ tranh của ông, họa sĩ Đinh Cường từng viết: "Tranh Sang vẫn bàng bạc một màu sương khói Huế. Là thế giới của mộng tưởng, nhiều ẩn dụ. Là sự liên kết giữa khoảng không (espase) và ngồn ngộn chất liệu (matière) mà dưới lớp sơn óng ánh kia là những ký hiệu tượng hình, những totem mà Sang gửi gắm. Tôi nhận ra ở đó cả phận người, hạnh phúc có và đớn đau có, cộng thêm một ít không khí của miếu đền, của tiếng vọng từ vách đá của điệu ru hời. Đi vào thế giới hội họa của Sang là đi vào không gian thuần khiết và mãnh liệt, thơ mộng và chân thật”. 

Trong ngôi nhà của Nghệ nhân Dương Dình Vinh
Cuộc sống và thực tiễn là những phạm trù để người nghệ sĩ lững lơ cảm xúc. Phong cảnh Huế, “Nắng phương này mà mưa tím phương kia” là nguyên liệu để người nghệ sĩ sáng tác và khai thác. Tranh phong cảnh của Dương Đình Sang được ghép từ nhiều mảng màu cuộc sống và chất đầy những ký ức tuổi thơ. Trong ấy có màu vàng của đất, có sông Hương, có núi Ngự, có chiều mây tím chân trời vần vũ, đất Kinh Đô quách thành dọc ngang một màu cổ kính. Ông đã chìm ngập bản thân mình trong màu sắc, như nếu thoáng nhìn màu xanh của những rặng cây đuổi theo nhau phủ vây những kiến trúc cổ uy nghiêm trầm mặc thì người xem sẽ rơi vào chiều sâu và chỉ giữ lại sự cân bằng …. 

Những năm tháng của cuộc đời, hình như họa sĩ Dương Đình Sang sống là để vẽ và vẽ bằng niềm đam mê nhiệt thành. Đối với tranh trừu tượng của Dương Đình Sang thường là những gam màu trung hòa, chuyển đổi sắc độ tinh tế đòi hỏi người vẽ phải có một sự am hiểu văn hóa và lịch sử sâu sắc như “Vũ điệu APSARA”, “Dấu tích Chàm”, Tôtem I, Tôtem II …. Còn tranh hình thể, như vẻ chú Tiểu, vẻ Tăng ni, Dương Đình Sang đã quệch cây cọ đường thanh thoát như tiếng chuông chùa Thiên Mụ nhịp nhàng buông. Thường trong tranh ông mặt người chiếm khoảng nhỏ, có hướng xô lệch. Hình như Dương Dình Sang muốn giành quyền đối thoại với khát vọng phiêu lưu của mỗi một con người, một hành trình đầy thách thức và hiểm họa vô thường ….

Rồi cứ lãng mạn, mãi rong chơi giữa vườn trí tưởng tượng, Dương Đình Sang chưa chuẩn bị cho mình chuyến đi lần sau cuối của cuộc đời. Mỗi cuộc ra đi, Thượng đế luôn dành chuyến đò riêng cho mỗi người. Đời nghệ sĩ, người nào lại không muốn đi theo lời mời gọi đầy khói hương lãng mạn trên biển sóng của riêng mình. Tôi nghĩ, với họa sĩ Dương Đình Sang, ông đã có, sự bất tử của một kẻ dấn thân.
Huế giữa tháng 10/2016
Andi Nguyễn Ánh Nhật



-->Đọc thêm...

29 tháng 9, 2015

MẬT ĐẰNG .





Với chỉ một tập thơ in chung và một tập tạp bút in riêng: "Mật đắng - Chuyện nhỏ" thì không thể gọi Võ Đan Thùy là người trong đạo "làng văn". Bởi trong những câu thơ hay dòng viết chỉ là điều Thùy đã góp nhặt sau lần yêu, lần gặp gỡ hay biết người này, người nọ trong đời. Song tôi nghĩ, cái được nhất và để nhiều người thích, chính là Võ Đan Thùy đã vẽ nên những bức chân dung, ngoài giọng văn đậm chất Nam Bộ còn đó một tấm lòng chân thành và trân trọng. ...Là chủ của một doanh nghiệp nhỏ, nên việc viết của Thùy đơn giản cũng chỉ để lưu giữ hình ảnh con người và những giá trị văn hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long trong dòng chảy mải miết của thời gian.....

Với Sài Gòn, nơi đây khái niệm thân, yêu hay lạ chỉ cách nhau bởi một tờ giấy gọi là tiền. Và nơi Thùy đang sống xung quanh có biết bao người lạ mà quen, quen mà lạ. Nhưng với một người đàn bà tuổi chỉ trên 30, lại có sự nhảy cảm trời phú nên mỗi khi Thùy tuôn câu chữ với những gì đã trải qua luôn chính xác đến không ngờ. Ngược lại với riêng tôi, đâu đó cũng có chút lo âu cho một người cả tin, cả nghĩ, nhiệt thành và nhạy cảm...Rồi cho đến bao giờ Thùy mới hết đau....(!?)

Với thân phận con người, như trong "Ngày nắng ngược" là những con chữ mộc mạc và giản dị mang đậm nhãn mác - Võ Đan Thùy : "Cái nắng vẫn rung rúc nhảy trên vai nó, tròn xoe như những hoa nắng cuối mùa. Ờ hén, mùa mưa lại về rồi kìa... Vài hôm nữa thôi, là biết bao đứa con lại rời quê tìm đến Sài Gòn, ôm trong mình một hoài bảo... Không biết trong đám di cư ấy, có cánh chim nào ngược nắng bay đi như nó ngày xưa không hén ?". Thùy đã thấy và chứng kiến biết bao tuổi thơ đã trở nên tàn khốc. Liệu có được đi đày tự do, tháo bỏ những gông xiềng trên người, để trở lại là một chú chim ưng oai phong ???. Rồi cuộc đời với nó có thể tha thứ cho nhau, tha thứ cho qúa sớm rời bỏ con đường sách vở, tha thứ vì đã không đọc được những quyển sách thánh hiền.....

Như vậy cũng không khó lắm để nhận ra thông điệp, Thùy muốn gởi gắm mọi người.

Sẽ là một điều thiếu sót nếu không nhắc đến những người bạn của tôi in chung với Thùy trong tập thơ như Huong Nguyen (đang sinh sống ở Bỉ), Nguyễn Phú Hữu, Violet, Thái Di Vương, Hồ Quốc Thái ....Họ đã sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau. Đời văn chỉ là đời sống riêng, có vui có buồn, có vinh quang, có lận đận. Ấy còn là những riêng tư trong những lúc trà dư tửu hậu, nhưng có khi lại hầu hạ cho họ trong một buổi đàm đạo thơ văn. Hạnh phúc là vậy, còn gì hơn thế nữa....

Andi Nguyễn Ánh Nhật.
-->Đọc thêm...

28 tháng 9, 2015

“Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương”


Lần về họp mặt cách đây 5 năm

Cổ nhân có câu: “Toán năng thế sự kim năng ngữ” (Ngẫm đời, thấy vàng bạc có khả năng nói được). Thứ có sức mạnh toàn năng như vàng bạc trong quan hệ xã hội cũng chỉ so với ngôn ngữ. Ngôn ngữ là thế, luôn luôn được tôn lên ngôi vị cao trọng và giữ quyền năng tối thượng trong mối quan hệ xã hội cũng như giữa người với người. Có nhiều giai thoại tôn vinh ngôn ngữ. Chuyện kể rằng, có nhà mưu lược và tài trí chỉ dùng lời nhục mạ nhưng mắn chết được kẻ thù giữa trận chiến. Lại có người dùng bài văn tế đọc giữa sông đã đuổi được bầy cá dữ. Và những người chúng tôi, thật tự hào ngoài tiếng mẹ đẻ lại được học thêm tiếng Nga, một ngôn ngữ cấp tiến và văn minh nhân loại”.

HÁO HỨC ẤT MÙI

Theo những nhà khoa học và nhà làm sự kiện, có đến hơn chục loại năm khác nhau để đo thời gian. Như năm thông thường, thời gian được tính một chu kỳ của trái đất xung quanh mặt trời, dài 365 ngày. Năm thiên văn, là thời gian hai lần mặt trời đi quanh một điểm cho trước trên bầu trời dài 365 ngày, 6 giờ, 9 phút. Còn năm vũ trụ, là thời gian quay vòng của mặt trời quanh trung tâm giải Ngân Hà dài 225 năm thông thường……

Với cô giáo và bạn bè cũ
Các nhà khoa học tâm linh còn cho rằng: Năm ra đời của mỗi con người, mỗi tổ chức đều liên quan đến Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh…) và Chi (Tý, Sửu, Dần, Mẹo…) như bản chất của con vật cầm tinh. Bởi vạn vật đều chịu sự tác động của những quy luật vũ trụ, của không gian và thời gian. Hơn nữa, chính những quy luật này đã giúp con người tính ra lịch dương, lịch âm bằng cách kết hợp giữa Thiên can và Địa chi.

Ta còn nhớ cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã thành công vào mùa thu năm 1945, hay cuộc đại thắng lịch sử mùa xuân năm 1975…. đều “ngẫu nhiên” nhằm vào Can - Ất (Ất Dậu - Ất Mẹo) . Hay những năm Ất trước đó cũng từng sản sinh những tên tuổi lớn, những sự kiện lớn làm rạng danh non sông đất nước Việt Nam. Năm 925 – Đinh Bộ Lĩnh đã có công dẹp loạn cát cứ, để trở thành vị Vua đầu nhà Đinh. Năm 1765 – Đại thi hào Nguyễn Du với Truyện Kiều đời đời bất hủ….

Với Thầy Nguyễn Đức Hùng
Khoa Nga trường Đại học Ngoại Ngữ Đà Nẵng thành lập năm 1985 trúng vào năm Ất Sửu là một “tín hiệu” tốt lành trong thuyết Âm Dương . Vậy với năm Ất Mùi này? Đây là năm kỷ niệm 30 năm ngày thành lập khoa và 40 năm Tiếng Nga được giảng dạy tại thành phố Đà Nẵng. Cho dù có những chu kỳ Giáp, Kỷ, Hội, Thập và Thế kỷ….thì lịch sử cũng không bao giờ lặp lại y nguyên đến từng chi tiết mà luôn luôn vận động, đổi mới và phát triển. Biết rằng sự phát triển của lịch sử bao giờ cũng mang đậm tính kế thừa và truyền thống…….Nhưng với “Dịch lý” sự ra đời của vạn vật vẫn có sự tương tác của thuyết ngũ hành.

VẤN VƯƠNG “NGÀY VỀ PHÍA CŨ”

“Núi cao ta trông, đường rộng ta đi

Đích thì chưa tới, nhưng lòng hướng về…”

Cứ mỗi lần nhớ lại lời Khổng Tử ấy, dù là người có thành đạt hay không, ai mà không dứt cho nhiều mối suy tư …..

Năm ấy, từ mái trường Đại học Ngoại Ngữ Đà Nẵng thân yệu, chúng tôi đi muôn nơi theo tiếng gọi mưu sinh và ra đời lập nghiệp. Đường đời muôn lối, nhưng ở đời, thường để kiếm việc làm luôn khó hơn khi công việc đã…. chọn người. Với những người bạn cùng thời, học khoa Anh, khoa Pháp, họ như “Chim vàng hót líu lo đậu bên góc núi” (Kinh Thi). Còn lũ chúng tôi, với vốn kiến thức tiếng Nga được học 4, 5 năm ở giảng đường (còn được đi thực tập sinh ở nước Nga nữa), nhưng lại có rất ít cơ hội để kiếm công việc phù hợp với những gì mình đã học. Chập chững vào đời, bước chân lại đi giữa nhá nhem phía trước và lờ mờ sau lưng. Khóc giữa Sài Gòn!. Hay nhiều người đã đi về muôn nẻo, hành trang chỉ vỏn vẹn mớ kiến thức tiếng Nga, nhưng không nghề nghiệp, không người họ hàng thân thích. Họ đã khóc như một người cận thị nặng bị đoạt kính giữa trời đầy mưa... Cuộc sống của con người là thế, để sống được với đời có bao giờ là chuyện dễ dàng….

Nay chuyện cũ đã trôi về phía sau, có thất vọng mới có niềm tin, có khó khăn nay mới có hạnh phúc tràn đầy. “Ngày về phía cũ” sau hơn một phần tư thế kỷ, tôi nghĩ ai cũng như tôi, có rất nhiều những kỷ niệm với thầy cô và bạn bè yêu quý. Nhưng để ghi chép hoặc kể lại bằng ngôn ngữ trên trang viết riêng mình về “ngày ấy”, về những câu chuyện xưa đã cất giữ sau bao nhiêu năm là điều không thể. Chỉ khi không xác định tháng ngày và gom hết mọi cung độ yêu thương hờn giận “người cũ – chuyện xưa” với dòng viết chân tình, mộc mạc thì mới có thể gọi tên cho một “Hồi ký yêu thương”……

Với Lâm Trường Giang
Ngày về hội ngộ gặp mặt lại thầy cô và bạn bè cũ!. Với thầy cô, chắc còn gì vui hơn khi những người khách sang sông đã nhớ về bến xưa và người chèo đò lặng lẽ. Với học trò, biết nói sao cho hết nỗi niềm, khi đã lớn khôn mới hiểu hết được những tấm lòng. Cả một đời, người thầy cô luôn luôn như điều Giáo sư người Pháp gốc Việt Cao Huy Thuần từng viết: “Dạy với cái nghĩa tinh khôi nhất, nghĩa là không phải dạy bằng chữ mà bằng chính con người mình, cuộc đời mình, ý chí của mình, đức hạnh của mình…”. Vậy đó, qua bao nhiêu năm rồi, thầy cô như bãi cát dài nâng mình con sóng, dẫu con sóng sau đùa đi con sóng trước xóa sạch vết cưu mang, nhưng bãi cát vẫn nằm đó nhớ hoài từng con sóng vỗ. Thương quá là thương! Người lái đò cứ miệt mài, cặm cụi đưa khách sang sông, mồ hôi cứ rơi trên tấm ván đò cũ kỉ. Khách đi rồi, lặng lẽ quay về lái tiếp chuyến đò sau…..

Một đời người – Một dòng sông trí thức. Đường đời nay có, làm sao quên được đã nhờ người đưa……

Với cây thơ Nga Liên
Ngày về gặp lại bạn bè xưa, có người tha hương lận đận, người ở lại thành danh ngay trên dải đất miền Trung nắng gió. Rồi dẫu có ai “lớn lên vạm vỡ”, ai cuộc đời “mờ dấu ngựa xe” cũng sẽ bỏ tất cả vai vế đời thường vốn có, cùng những ưu tư nhọc nhằn hiện tại. Cứ để niềm vui vỡ òa và những giận hờn xưa cũ lùi sâu. Cùng siết chặt tay nhau để nhận mặt tháng ngày, một quãng đời từng được học hành chung một mái trường cùng thầy cô kính mến. Rồi hôm nay, ai ai cũng ngon lành chứ không phải “cùi thơm xác mía”….

Trường Ngoại Ngữ Đà Nẵng trước năm 1975
Ngày tha hương trở về chốn cũ, “bâng khuâng đợi chờ người sao chẳng đến, hỏi lá hỏi hoa chỉ thấy im lìm”. Lòng đau thắt và nước mắt chợt rưng khi có người thầy, người cô nay đã đi về nơi xa….xa hơn cả cuộc đời!. Và có cơn gió thoảng mưa sầu bất hạnh đã cuốn “bạn cũ xa rồi có người về đất buông xuôi” .

Dẫu có muộn màng, cúi xin dâng quý anh linh một nén tâm hương thành kính biết ơn – Người đưa đò vĩ đại….

Một phút mặc niệm tưởng nhớ những buổi cơ đầu có bạn còn lưu dấu. Bạn đi xa không vươn vấn chút bụi trần, nhưng vẫn còn đây giọt lệ buồn luôn chan chứa tình bạn muôn năm….

THAY LỜI MUỐN NÓI

Trường Ngoại Ngữ Đà Nẵng trước năm 1975
Ngày hạnh ngộ ngắn ngủi, rồi sẽ nói với nhau lời “Hẹn gặp lại!”. Người người phải xuôi về muôn nẻo, bịn rịn níu chân làm lòng người chùng lại. Nhưng hãy nhớ dặn dò và nhắc nhở với nhau, lòng sẽ nhẹ nhàng thanh thản khi biết sống xứng đáng với quảng thời gian còn lại ……ngày mai. Và giảng đường xưa kia mới là thiên đường đầy hoa và mật ngọt. Còn những khoảng khắc vui buồn đang còn ở lại hay đã trôi xa cũng là điều trải nghiệm để nuôi ta khôn lớn, chẳng thấm tháp chi so với những sóng gió dành cho mỗi cuộc đời….

Andi Nguyễn Ánh Nhật
-->Đọc thêm...

29 tháng 8, 2015

VÀI CẢM NGHĨ VỀ MỘT BÀI THƠ


                                                                          
Gởi VÕ ĐAN THÙY

Nhiều nhà thơ cho rằng định nghĩa thơ chỉ làm cho thơ… cứng nhắc.Tôi nhớ có lần đọc trên một tạp chí cách nay hơn mười năm đã trích dẫn vài ba chục định nghĩa: “Thơ là gì?”. Rồi tất cả, tôi nghĩ cũng chỉ đúng ở một khía cạnh nào đó mà thôi. Là một người không biết làm đến nửa câu thơ nhưng tôi luôn đồng cảm với dòng viết của nhà thơ Bằng Việt trong cuốn “Thơ tình thế kỷ XX” ..." ….Khi người ta đã mệt mỏi vì chủ nghĩa hiện đại và các thứ chủ nghĩa khác từng bung phá thơ suốt 70, 80 năm của thế kỷ XX thì người ta nghĩ đến món súp Tả- pí - lù hậu hiện đại…” .

Với thơ của Võ Đan Thùy, có thể đây cũng là món “Tả- pí- lù chính hiệu” của thơ ở “thì hậu hiện đại”. Hoặc đây là món gì đó khác hơn, tôi không quan tâm cách nấu và nguyên liệu làm ra. Vì với bút lực như Võ Đan Thùy, tôi nghĩ Thùy có thể làm thơ như mọi người “muốn hình thức thì hình thức, muốn thể loại có thể loại…muốn gì có nấy v.v.v!”. Nhưng tôi tin rất ít người có những kiến giải “lý trí và thực lòng” trước những khắt nghiệt trớ trêu của “cuộc sống và tình yêu” trong thơ như vậy. 

Nay thử hỏi, nếu chọn một cách “keo kiệt” để bình, tôi cũng tin sẽ không có nhà bình thơ nào chọn bài thơ này để viết. Hoặc nếu có với Võ Đan Thùy thì phải là bài thơ khác hay hơn (mà riêng tôi, Thùy có những bài thơ khác hay hơn nhiều). Nhưng thôi, ai lại hơn thua với một người thơ mà lòng mình hằng yêu quý !.

Từ thời Yahoo Blog nhiều người ngưỡng mộ Võ Đan Thùy trong lồi viết văn hơn là thơ. Người đọc có lý của người đọc, nhiều khi họ khen thơ trước mặt rồi phán …..“nặng trịch” sau lưng. Âu đó cũng là lẽ thường tình vì người ta chưa tìm thấy cái đẹp, cái kín đáo trong thơ của Thùy như một thứ hương thầm gợi nhớ gợi thương. Có người nói với tôi rằng thơ của Võ Đan Thùy câu cú dài lê thê. Đánh giá ấy cũng đúng về mặt lý luận thơ ca trong nhà trường. Nhưng theo cách nói của “cây đa cây đề” Bằng Việt, tôi nghĩ thơ hay ở “thì hậu hiện đại” là thơ được khơi nguồn từ sự thành thực của lòng thi sĩ trong những lúc thăng hoa, mà không cần nghiền ngẫm gì cho cứng nhắc. Như Võ Đan Thùy - Yêu chỉ biết yêu và đau khi mất mát, như đó là điều vốn có của người đàn bà. Và tác giả cũng không phải nằm trong trường hợp ngoại lệ. Lại nữa, đã là kiếp phận đàn bà, nên khi trái tim đập vỗ, ai lại không có cảm giác bất an chen ngang cảm xúc yêu thương!?. Một “quy luật muôn đời” của phái yếu và nay Thùy thi cảm:
“Em nghĩ thật nhiều về những cuộc chia tay
Tự hỏi khi quay lưng con tim có quay đầu nhìn lại
Hay cũng như chiếc lá
Lẳng lặng gieo mình cho đỏ miền vụng dại
Vạt cỏ có chợt đau?”

Đàn bà mà, cảm giác yêu thương càng trỗi dậy thì cảm giác bất an cũng tỷ lệ thuận bấy nhiêu. Không phải là “Những phút xao lòng”, ngoài chồng, ngoài vợ như Thuận Hữu, nhưng khi yêu người đàn bà vẫn sợ….. Ngọn lửa tình đang ngun ngút cháy, có khi nào “con tim có quay đầu nhìn lại” rồi mình phải “Lẳng lặng gieo mình cho đỏ miền vụng dại”. 

Hay quá! Một chiêm nghiệm lặng lẽ và sâu sắc về tình yêu. Tôi cũng nghĩ đó còn là cách vào đề “vô giới tính”, bởi tôi, tác giả hay một ai đó cũng có thể thay đại từ xưng hô: “Anh”, “Em”, “Tôi” để nói hộ nỗi lòng của chính mình khi yêu, khi một lần đổ vỡ.

Điều hay nữa trong thơ của Võ Đan Thùy không phải ở chổ bố cục mà đó là ngôn ngữ và dáng dấp. Trong thế giới màu sắc - Màu đỏ luôn như ngôn ngữ có sắc độ mạnh chỉ đứng sau hai màu “đen, trắng”, có sức nâng dậy tình cảm thực. Và nay Thùy dùng hình ảnh này để đào xới chi chút từng biến động của nội tâm. Biết rằng ai cũng có một quá khứ “vụng dại”, giờ đã đi qua, nhưng “Vạt cỏ có chợt đau?” khi lòng dạ người đàn bà cứ thường yếu đuối, lăn tăn….

Nhớ một thời đã rất xa với hôm nay, khi đọc bài thơ “Những phút xao lòng” của Thuận Hữu, nhà thơ Xuân Diệu có nhận xét: “Viết như thế là bạo nhưng mà thật, có thể chấp nhận được”. Tư tưởng thơ của Võ Đan Thùy và Thuận Hữu khác nhau và tôi cũng không so sánh nghệ thuật làm thơ giữa hai tác giả này. Nhưng tôi nghĩ, với tâm hồn mẫn cảm của một người đàn bà, Thùy đã tự vấn với chính mình những hình ảnh, những chi tiết từng có trong đời thường bằng thơ như thế này quả là quá hiếm:
“Rồi em nghĩ nếu chúng mình yêu nhau
Không biết anh có bao dung khi thi thoảng em nhói lòng câu thơ cũ
Còn em, liệu em có tủn mủn hờn ghen khi anh nhớ về ngày xưa bằng một nhịp tim không ngủ
Và biết đâu lúc dỗi hờn mình lại cứa nát lòng nhau
Anh đau
Em cũng đau” 

Cảm xúc yêu hiện tại và kỷ niệm năm xưa đôi khi cũng có thể đan xen làm cho những người đang yêu cay cay nơi sống mũi. “Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ” (Thuận Hữu). Bởi vậy tác giả tự hỏi: “Liệu em có tủn mủn hờn ghen khi anh nhớ về ngày xưa bằng một nhịp tim không ngủ”, còn : “Anh có bao dung khi thi thoảng em nhói lòng câu thơ cũ”. Con người mà, sẽ có bản năng, sẽ có những thường tình, khi "tình xưa và câu thơ cũ" cùng rủ về ghé thăm! Và lúc ấy “ biết đâu lúc dỗi hờn mình lại cứa nát lòng nhau”. Rồi “Anh đau” và “Em cũng đau” – Người ta thường nói thơ từ trái tim, là tiếng nói của trái tim, ở đoạn thơ này cảm xúc của người viết như đã lên đồng vì đường thi tả thực. Đọc lên nghe như tiếng lòng của giai nhân đang tâm sự, đang muốn giãi lòng mình trước khắt nghiệt của hạnh phúc và tình yêu!. Hay!

Khi đã có sự chín chắn và trải nghiệm, người đàn bà yêu sẽ lý trí hơn. Còn tình cảm?. “Phạm trù” ấy vẫn cứ song song. Yêu - Hạnh phúc là được muốn tận hiến nhưng lo âu trăn trở kia cũng đã nhì nhằn sánh bước!. Món “Tả - Pí – Lù” của Võ Đan Thùy lại trôi tiếp theo dòng cảm xúc:
Em sợ mùa yêu cũng đau cho lá bàng rấm rức khóc đỏ hoài con mắt
Em sợ Sài Gòn của em cũng đau cho ly cà phê trên tay đắng ngắt với bao điều dằn vặt"

Người đàn bà là thế, lúc “rấm rức”, lúc “đắng ngắt” cũng là lúc họ chùn bước, lạc đường và lỗi nhịp. Thương còn có thể!. Nhưng đưa người đàn bà đến một tình cảm xa hơn luôn khó gấp bội phần. Muốn hạt giống nảy mầm, nên người ta phải chôn sâu vào lòng đất lắm bùn và hỏi:
“Và nơi anh biển có dậy sóng vỡ toang bờ ?
Em lại nghĩ một ngày mình xếp lại hết những giấc mơ
Ôi ! Trăm chuyện làm em cáu giận.
Liệu khi đó, mình có còn thương nhau?”
Mà có trách chi những phút xao lòng! :
“Thôi
Chẳng thèm nghĩ nữa đâu.
Nhắm mắt lại nghen anh
Mình hôn nhau đi, anh nhé!” 

Một khổ thơ tự do được viết theo cảm xúc để kết thúc món “Tả-Pí-Lù”. Dù vắng đi chữ “yêu” hoặc “thương” nhưng ai cũng nhận ra một điều, tình yêu đã đến với người đàn bà và họ đã vượt qua những trăn trở và sự suy ngẫm đời thường…..

Rất ý vị và đậm chất men tình Thùy ơi và Thùy ơi! .

Andi Nguyễn Ánh Nhật.






-->Đọc thêm...

BÀI ĐƯỢC NHIỀU ĐỘC GIẢ ĐỌC